Chủ Nhật, 18 tháng 3, 2018

IVF là gì? Khi nào cần dùng tới IVF


IVF là gì?

IVF là tên viết tắt của phương pháp thụ tinh nhân tạo trong ống nghiệm. Đây là phương pháp thụ tinh bên ngoài cơ thể. Với phương pháp này tinh trùng của người chồng và trứng của người vợ được nuôi cấy trong môi trường thuận lợi để quá trình thụ tinh xảy ra trong ống nghiệm, tạo thành phôi thai – phôi thai được cấy trực tiếp vào niêm mạc buồng tử cung của nữ giới, nếu phôi thai có thể làm tổ chắc chắn tại đây và phát triển tốt thì phương pháp thành công.

Phương pháp này bao gồm nhiều bước và nhóm kỹ thuật khác nhau. Bác sĩ sẽ chỉ định thực hiện cho tinh trùng tự thụ tinh với trứng trong ống nghiệm tùy vào tình trạng của người hiếm muộn. Có thể tiêm tinh trùng vào bào tương trứng (ICSI), nuôi trứng non rồi cho thụ tinh… Tóm lại kỹ thuật này tương đối phức tạp, đòi hỏi bác sỹ có tay nghề cao.

Khi nào cần dùng IVF?

Thụ tinh trong ống nghiệm được chỉ định cho các trường hợp như tắc ống dẫn trứng, lạc nội mạc tử cung, tinh trùng yếu, dị dạng, không có tinh trùng trong tinh dịch. Đặc biệt đối với người hiếm muộn lớn tuổi hoặc đã áp dụng phương pháp IUI nhưng không thành công.

Phụ nữ là người cần đầu tư nhiều về thời gian và công sức khi quyết định thụ tinh trong ống nghiệm. Việc chọc hút trứng là phương pháp phải được làm các xét nghiệm nội tiết, máu, xét nghiệm chức năng gan, thận rất kỹ càng.

Đây cũng là phương pháp sử dụng cho các trường hợp người hiếm muộn xin trứng, xin tinh trùng. Phụ nữ có thể được cho dùng thuốc giúp kích thích buồng trứng, tiến hành chọc hút trứng. Phôi được thụ tinh sẽ đưa ngược trở lại cơ thể.

Điều mà các cặp vợ chồng thường quan tâm khi dự định làm thụ tinh ống nghiệm IVF là thụ tinh ống nghiệm mất bao nhiêu thời gian và trải qua những quy trình nào?

Tùy trường hợp cụ thể, người vợ được kích thích buồng trứng theo phác đồ khác nhau. Thông thường, kể từ lúc bắt đầu tiến hành thụ tinh trong ống nghiệm đến khi biết kết quả có thai nhanh nhất là mất 5 tuần.

Chuẩn bị gì trước khi làm thụ tinh ống nghiệm IVF?

Ở giai đoạn chuẩn bị làm thụ tinh ống nghiệm IVF, cả 2 vợ chồng sẽ được thực hiện một số xét nghiệm đánh giá khả năng sinh sản phục vụ cho quá trình thụ tinh ống nghiệm IVF.
Tiếp theo khâu xét nghiệm đánh giá khả năng sinh sản là khâu khám tiền mê để bác sĩ đánh giá tình trạng sức khỏe tổng quát của người vợ và để xem người vợ có khả năng làm thụ tinh ống nghiệm và mang thai hay không.

Sau khi đã được các bác sĩ khám, tư vấn và có chỉ định thực hiện thụ tinh ống nghiệm IVF, người vợ được hẹn quay lại bệnh viện để thăm khám vào ngày có kinh thứ 2 hay thứ 3 của chu kỳ.

Đây cũng là thời gian để các cặp vợ chồng chuẩn bị tâm lý, sức khỏe và sắp xếp công việc, chi phí… để chuẩn bị bước vào quy trình chính thức của quá trình thụ tinh ống nghiệm IVF.

Thứ Hai, 12 tháng 3, 2018

Top 5 bác sĩ chữa vô sinh - hiếm muộn, làm thụ tinh ống nghiệm tốt nhất

Dạo này mình hay đọc được tâm sự của các mẹ làm ivf không thành công đâm ra nản lòng. Mình cũng đã từng ở trong hoàn cảnh đó, cũng từng đau khổ, mệt mỏi khi ivf nhiều lần không thành công. 
Cũng đã từng có ý định dừng lại, chuyện tình cảm vợ chồng cũng vì đó mà sứt mẻ rồi còn suýt nữa là li hôn. May mắn đã mỉm cười với mình khi có thai bé trai ở lần ivf thứ 5, dù lúc đó vợ chồng gần như tay trắng vì bao nhiêu tiền của đều đổ vào điều trị nhưng vẫn hạnh phúc lắm. Đến giờ thì gia đình mình vẫn đang hạnh phúc, chuyện kinh doanh của chồng cũng tốt hơn rồi.
Vậy nên các mẹ đừng nản lòng, cứ tin theo bác sĩ giỏi, mát tay thì cũng sẽ gặp may mắn thôi. Dưới đây mình chia sẻ những bác sĩ nổi tiếng trong điều trị vô sinh hiếm muộn, chắc nhiều mẹ cũng biết rồi nhưng mình tổng hợp thành danh sách cho nhiều mẹ khác dễ tìm hiểu.
1. GS.TS.BS Nguyễn Viết Tiến
GS.TS.BS Nguyễn Viết Tiến, Thứ trưởng Bộ Y tế, kiêm Giám đốc Trung tâm Hỗ trợ sinh sản quốc gia. Ông được biết đến là một bác sỹ sản khoa giỏi, là thế hệ đầu tiên ở miền Bắc được học tập về kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm. Sau thời gian dài làm GĐ BV Phụ sản Trung ương, ông được bổ nhiệm chức vụ Thứ trưởng bộ y tế. Ngoài thời gian thực hiện công việc quản lý tại Bộ, ông vẫn tranh thủ thời gian để điều trị cho một số ca vô sinh hiếm muộn và chia sẻ chuyên môn cho thế hệ sau.
Sau nhiều năm công tác trong ngành sản khoa và thụ tinh trong ống nghiệm, GS Tiến đã đóng góp nhiều công trình nghiên cứu về các kỹ thuật mới trong chẩn đoán và điều trị vô sinh ở Việt Nam. Nhờ đó, các cặp vợ chồng hiếm muộn tiết kiệm được nhiều chi phí hơn (rẻ hơn 5-10 lần so với ra nước ngoài), đem lại sự thuận tiện và dễ dàng hơn khi điều trị.
2.PGS.TS.BS. Thầy thuốc nhân dân Lê Hoàng
Thầy thuốc nhân dân, PGS.TS. BS Lê Hoàng – Giám đốc Trung tâm Hỗ trợ sinh sản – Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh Hà Nội (IVFTA), Nguyên Phó Giám đốc Bệnh viện Phụ sản Trung ương, Phó Giám đốc Trung tâm Hỗ trợ sinh sản Quốc gia. Vừa qua, ông là một trong số ít bác sĩ của Việt Nam đạt danh hiệu Hội viên danh dự của Hội sản phụ khoa Pháp, Mỹ.
Trước khi đến với thụ tinh trong ống nghiệm, BS Lê Hoàng nổi tiếng là BS Sản phụ khoa mát tay, chuyên điều trị các ca bệnh khó tại BV Phụ sản TW ( sản C) cũng như thường xuyên được mời “cấp cứu” tham gia hội chẩn, điều trị các ca bệnh khó tại các bệnh viện ở Hà Nội và các tỉnh miền Bắc. BS nổi tiếng đặc biệt về mổ nội soi tách dính buồng tử cung, thông tắc vòi trứng, cắt/đốt u xơ tử cung vòi trứng… do đó khi điều trị cho các bệnh nhân hiếm muộn, ông thường phát hiện và xử lý rất “tài tình” các trường hợp có các vấn đề này trước khi chuyển phôi, từ đó giúp tỷ lệ thành công cao hơn, thậm chí tìm ra nguyên nhân để xử lý các trường hợp làm IVF nhiều lần mà khôgn thành công. Ông cũng là một trong những bác sĩ đầu tiên ở miền Bắc được cử đi đào tạo về kỹ thuật IVF ở nước ngoài, cập nhật thường xuyên các kỹ thuật mới nhất về IVF để ứng dụng tại Việt Nam.
Tại IVFTA, Bác sĩ Hoàng trực tiếp khám, tư vấn, điều trị cho các cặp vợ chồng vô sinh hiếm muộn, đặc biệt là những ca khó, bị vô sinh kèm theo bệnh lý hiểm nghèo, làm thụ tinh ống nghiệm thất bại nhiều lần, tuổi cao… thậm chí không còn nơi nào nhận cũng được BS Hoàng làm IVF thành công.
Với cương vị GĐ TT IVFTA, BS Hoàng còn trực tiếp xem hồ sơ của tất cả bệnh nhân đến điều trị VSHM tại IVFTA từ đó lên phác đồ điều trị cho 100% trường hợp làm IVF tại BV Tâm Anh.
Trải qua hơn 30 năm gắn bó với ngành sản phụ khoa, hơn 20 năm gắn bó với lĩnh vực thụ tinh trong ống nghiệm IVF, ông được nhiều cặp vợ chồng hiếm muộn gọi là “sứ giả IVF” khi giúp hàng nghìn cặp vợ chồng được làm cha mẹ.
Bác sĩ Lê Hoàng được bệnh nhân và giới chuyên môn đánh giá là một trong những chuyên gia điều trị VSHM hàng đầu Việt Nam hiện nay
Nhờ vào hệ thống trang thiết bị cao cấp và tay nghề cao của các BS, KTV, tỷ lệ làm IVF thành công ở IVFTA trung bình đạt trên 50% (ở độ tuổi dưới 30 có thể lên đến 70-80%). Tại IVFTA, BS Lê Hoàng và các đồng nghiệp có thể thực hiện dễ dàng tất cả các kỹ thuật cao trong IVF như sàng lọc tinh trùng, chọn trứng, tạo và nuôi cấy phôi, tiêm tinh trùng vào bào tương trứng ICSI, hỗ trợ phôi thoát màng, nuôi phôi ngày 5; kể cả những kỹ thuật khó như kỹ thuật trưởng thành trứng non, sàng lọc di truyền tiền làm tổ PGS, PGD, NIPT… Trước đây, để làm những kỹ thuật này, bệnh nhân phải đến những bệnh viện lớn ở nước ngoài điều trị. Nay nhiều cặp vợ chồng có thể hiện thực hóa ước mơ làm cha mẹ bằng các kỹ thuật tiên tiến tại IVFTA cùng BS Lê Hoàng.
3. GS.TS.BS Đỗ Trọng Hiếu
GS.TS.BS Đỗ Trọng Hiếu hiện là cố vấn chuyên môn cho Bệnh viện Nam học và Hiếm muộn Hà Nội. Ông từng giữ nhiều chức vụ quan trọng như: Nguyên Vụ trưởng vụ Bà mẹ và trẻ em, Nguyên Giám đốc các chương trình sinh sản của Bộ Y tế, Nguyên Phó giám đốc bệnh viện phụ sản Trung ương, Nguyên Giám đốc chương trình Thụ tinh ống nghiệm Bệnh viện Từ Dũ.
Bên cạnh công việc hiện tại, giáo sư thường xuyên tham gia tổ chức các hội nghị, hội thảo về cách phòng và điều trị vô sinh hiếm muộn, trao đổi kinh nghiệm cùng các y bác sĩ trong ngành để nâng cao kiến thức và cập nhật phương pháp điều trị hiếm muộn.
4. GS.TS.BS Nguyễn Đình Tảo
GS.TS.BS Nguyễn Đình Tảo hiện là Phó GĐ Trung tâm công nghệ phôi – Học viện Quân y. Ông còn là cố vấn chuyên môn cho Bệnh viện Nam học và Hiếm muộn Hà Nội.
Bác sĩ Tảo đã có đóng góp nhiều nghiên cứu quan trọng trong lĩnh vực hỗ trợ sinh sản. Tiêu biểu, ông đã đạt một số giải thưởng VIFOTEC về nuôi cấy tế bào dòng tinh và chẩn đoán di truyền trước chuyển phôi.
5. Bác sĩ Tăng Đức Cương
Hiện Bác sĩ Tăng Đức Cương đang cộng tác tại Trung tâm hỗ trợ sinh sản IVFTA. Trước đây, anh từng là Bác sĩ Hỗ trợ sinh sản tại Bệnh viện Bưu Điện.
Là một bác sĩ trẻ nhưng BS Cương được rất nhiều cặp vợ chồng mong con biết đến, không ít bệnh nhân đánh giá là một trong những bác sĩ chữa vô sinh hiếm muộn giỏi tại Hà Nội. Anh cũng thường xuyên được đơn vị cử đi đào tạo ở nước ngoài, cập nhật các kỹ thuật mới nhất trong thụ tinh ống nghiệm nhằm nâng cao tỷ lệ thành công khi thực hiện IVF.
Còn nhiều Bsi giỏi trong lĩnh vực này nên các mẹ biết thêm được bác sĩ nào nữa thì chia sẻ bên dưới cmt nhé. chúc các mẹ sớm có tin vui

Những yếu tố và bí quyết tăng khả năng thành công khi thụ tinh trong ống nghiệm

Bên cạnh đặc điểm riêng của từng trường hợp, khả năng thành công của thụ tinh trong ống nghiệm (IVF) phụ thuộc rất lớn vào kỹ thuật thực hiện, công nghệ nuôi cấy phôi và cả yếu tố tâm lý.

Khi hiểu rõ các yếu tố chủ quan và khách quan có thể tăng khả năng thành công, bạn sẽ có những bước chuẩn bị tốt nhất cho để tiến gần đến ước mơ làm mẹ của mình.

Dưới đây là chi tiết 5 yếu tố ảnh hưởng đến thành công của thụ tinh trong ống nghiệm

1. Tuổi càng trẻ, khả năng IVF thành công càng cao

Việc mang thai, sinh nở dù theo hình thức thụ tinh tự nhiên hay thụ tinh trong ống nghiệm (IVF) đều phụ thuộc rất lớn vào độ tuổi của người mẹ. Bởi số lượng và chất lượng trứng đạt tiêu chuẩn (có thể cùng với tinh trùng tạo thành phôi khỏe mạnh) theo sinh lý phụ nữ sẽ giảm theo thời gian, đặc biệt khi phụ nữ bước qua tuổi 35. Chất lượng trứng càng tốt, số phôi tạo thành càng nhiều, dẫn đến cơ hội chuyển phôi của mẹ được nhiều lần hơn trong 1 chu kỳ kích thích trứng.
Với thụ tinh trong ống nghiệm (IVF), giai đoạn quan trọng nhất là ở lần chọc hút trứng (sau khi tiêm thuốc kích thích rụng trứng). Trong suốt quá trình kích thích trứng, người mẹ sẽ biết số lượng trứng mình có trong chu kỳ này là bao nhiêu. Số lượng trứng này đối với mỗi phụ nữ đều khác nhau, tùy vào cơ địa từng người. Trong IVF, chỉ có khoảng 60-70% trứng trưởng thành sẽ tạo thành phôi. Khoảng 95% noãn thụ tinh với tinh trùng sau đó sẽ phát triển thành phôi ngày 2; 70-80% noãn thụ tinh sẽ phát triển đến phôi ngày 3; khoảng 50% noãn thụ tinh sẽ phát triển đến phôi ngày 5. Nghĩa là nếu nuôi cấy càng kéo dài, số phôi còn lại càng thấp. Ví dụ: Nếu chọc hút lấy được 10 trứng trưởng thành thì số phôi trung bình có được khi nuôi cấy đến ngày 2 là 6 phôi; đến ngày 3 là 4-5 phôi, đến ngày 5 là 2-3 phôi. Đây là ước tính trung bình, mỗi trường hợp có thể khác.
Ngoài ra, phôi cũng được phân loại thành phôi loại 1, phôi loại 2 và phôi loại 3 tùy theo chất lượng phôi. Tuy nhiên, chất lượng của các loại phôi cũng không quá khác biệt, nên bạn cũng không nên quá lo lắng nếu chỉ có phôi loại 2 hoặc 3 mà không có phôi loại 1.
Khả năng làm tổ của một phôi, nghĩa là khả năng có thai của một phôi khi cấy vào tử cung là khoảng 15-20% với phôi ngày 2; khoảng 20-25% với phôi ngày 3; 30-35% nếu là phôi ngày 5. Phụ nữ tuổi càng cao thì tỉ lệ thành công giảm dần.

2. Điều trị càng sớm càng có nhiều cơ hội thành công

Trước khi tiến hành thụ tinh trong ống nghiệm, tất cả các cặp vợ chồng đều được kiểm tra tình trạng vô sinh hiếm muộn. Với những ca bị vô sinh hiếm muộn nhiều năm, nguyên nhân gây vô sinh phức tạp (tinh trùng của người chồng quá ít, quá yếu…; hay người vợ có tiền sử kích thích buồng trứng quá mức, lạc nội mạc tử cung…, chắc chắn quá trình “đi tìm con yêu” sẽ khó khăn, vất vả hơn.
Vì vậy, theo khuyến cáo, nếu sau một năm không dùng các biện pháp tránh thai mà vẫn chưa có con, các cặp vợ chồng cần đi khám sớm nhằm tìm ra nguyên nhân và tình trạng đang gặp để kịp thời điều trị.

3. Trình độ kỹ thuật thực hiện

Thụ tinh trong ống nghiệm là một kỹ thuật gồm nhiều bước phức tạp, đòi hỏi bác sĩ thực hiện là người không chỉ có chuyên môn mà còn phải có kinh nghiệm. Đặc biệt với những ca mà nguyên nhân vô sinh hiếm muộn phức tạp, bác sĩ sẽ phải quyết định có cần thực hiện các kỹ thuật liên quan chuyên sâu như tiêm tinh trùng vào bào tương trứng (ICSI), nuôi trứng non rồi cho thụ tinh… hay không.
Kỹ thuật được tiến hành chính xác không chỉ quyết định tỷ lệ thành công của ca thụ tinh trong ống nghiệm, giúp giảm chi phí, thời gian tiến hành mà còn giúp tránh được những rủi ro về sức khỏe cho người mẹ.
Theo thống kê ở các ca thụ tinh trong ống nghiệm, nguy cơ tổn thương ruột, nội tạng gây xuất huyết nội trong quá trình sử dụng kim đâm để chọc hút trứng, phải cấp cứu là khoảng 0,1%; bệnh nhân bị hội chứng quá kích buồng trứng khi tiêm thuốc kích thích rụng trứng là 1-2%. Những nguy cơ này có thể được kiểm soát nếu thực hiện ở những bệnh viện lớn, nơi quy tụ đội ngũ chuyên gia, bác sĩ thực hiện có tay nghề cao và trang thiết bị hiện đại.
Việt Nam được đánh giá là nước thực hiện kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm hiệu quả hàng đầu trong khu vực và trên thế giới. Thậm chí rất nhiều người nước ngoài đã tìm đến Việt Nam để tìm kiếm cơ hội có con cho mình. Vì vậy, các cặp vợ chồng vô sinh hiếm muộn tại Việt Nam không cần phải đi đâu xa để thực hiện thụ tinh trong ống nghiệm. Ngay tại nước nhà, may mắn vẫn có thể đến với mình khi chọn được nơi điều trị vô sinh hiếm muộn đạt tiêu chuẩn quốc tế và bác sĩ có tay nghề cao.

4. Phòng LAB đạt chuẩn “phòng sạch”, kỹ thuật viên tay nghề cao

Thụ tinh trong ống nghiệm và các kỹ thuật liên quan đòi hỏi phải có phòng nuôi cấy trứng non, nuôi cấy phôi đạt tiêu chuẩn nghiêm ngặt, trong đó gồm tiêu chí vô trùng, nhiệt độ, độ ẩm phù hợp, chất lượng không khí phải luôn ở mức tối ưu nhất. Bởi trứng non hay phôi khi nuôi cấy ở môi trường bên ngoài tử cung người mẹ rất dễ bị vi khuẩn, bào tử nấm mốc, virus… trong không khí tấn công, ảnh hưởng đến sự phát triển thậm chí ngưng phát triển. Có thể nói, tiêu chuẩn phòng sạch (clean room) đóng vai trò quan trọng vào sự thành bại của thụ tinh trong ống nghiệm.
Tuy nhiên để đầu tư và đảm bảo chất lượng phòng sạch theo tiêu chuẩn quốc tế là điều rất ít bệnh viện hiện nay có khả năng thực hiện. Ngoài chi phí đầu tư cao, việc xây dựng phòng sạch phải tiến hành đồng bộ ngay từ ban đầu, đội ngũ nhân viên làm việc trong khu vực phòng labo (phòng nuôi cấy khi thụ tinh trong ống nghiệm) phải được đào tạo kiến thức nâng cao về kỹ thuật kiểm soát chất lượng không khí; quy trình thao tác hàng ngày nghiêm ngặt để đảm bảo chất lượng không khí… 

5. Tham khảo chừng mực các kinh nghiệm làm IVF thành công được chia sẻ trên mạng

Trong quá trình thực hiện IVF, chị em thường có tâm lý tìm hiểu và tiếp thu các kinh nghiệm dân gian truyền miệng để cải thiện độ dày niêm mạc, tăng khả năng phôi bám thành công như ăn nhiều bơ, sầu riêng, cá chép có trứng, lòng trắng trứng gà, uống sữa đậu nành, kiêng tắm, nằm bất động… Những kinh nghiệm dân gian cần tiếp thu một cách chừng mực, chủ yếu để tạo tâm lý thoải mái và an tâm – một yếu tố rất quan trọng để chuyển phôi IVF thành công.
Thông thường, bác sĩ sẽ khuyên bạn ăn uống bình thường và vận động nhẹ nhàng trong thời gian sau chuyển phôi. Để ăn tâm hơn, bạn có thể thực hiện theo một số lời khuyên khoa học và hợp lý như:
Trước khi chuyển phôi
Các cặp đôi nên chuẩn bị sức khỏe trước khi làm IVF khoảng vài tháng để có thể lực và tâm lý tốt nhất như:
  • Dinh dưỡng: cả 2 vợ chồng để cần bổ sung dinh dưỡng đầy đủ tất cả các nhóm chất dinh dưỡng. Riêng đối với người chồng, nên ăn thực phẩm chứa nhiều sắt kẽm như thịt bò, sò huyết và tăng khẩu phần ăn khi gần đến ngày lấy tinh trùng.
  • Vận động: Trong thời gian lên kế hoạch chuẩn bị tiến hành IVF, cả 2 nên tham gia các môn thể thao yêu thích và phù hợp để nâng cao thể lực thể chất và tinh thần. Nên đi du lịch để có tâm lý vui vẻ và thoải mái trước khi bước vào quá trình làm IVF.
  • Quan hệ vợ chồng: Trước khi chuyển phôi 24 tiếng, vợ chồng không quan hệ tình dục.
  • Khi chuẩn bị chọc hút trứng, người vợ cần tuân thủ nghiêm ngặt các hướng dẫn của bác sĩ như: Không trang điểm, không sử dụng nước hoa, không sơn móng tay chân,… nhằm đảm bảo vệ sinh và sự an toàn cho việc chọc hút trứng thành công.
Sau khi chuyển phôi
Trong thời gian này các cặp đôi cần lưu ý nhiều hơn đến vấn đề dinh dưỡng, vận động, nghỉ ngơi và các vấn đề trong sinh hoạt khác:
  • Dinh dưỡng: nên bổ sung đạm từ thịt gà, thịt bò, thịt heo, hàu, tôm, cua, sữa. Tránh ăn chua cay và các chất kích thích như tiêu, ớt, cà phê, bia, rượu, hút …. Tránh ăn quá mặn; Không ăn quá lạnh hoặc quá nóng. Ăn nhiều rau, chất xơ, uống nước hoa quả và dùng thực phẩm hợp vệ sinh để tránh táo bón hoặc tiêu chảy trong thời gian này. Hiện nay chưa có một công trình nghiên cứu khoa học nào chứng minh bơ và sầu riêng… giúp làm dày tử cung và tốt cho trứng của người phụ nữ nên bạn cũng chỉ nên ăn một cách chừng mực, không nên quá lạm dụng.
  • Vận động: sau khi chuyển phôi nên đi lại nhẹ nhàng, không đi cầu thang. Một số kinh nghiệm dân gian khuyên chị em nên nằm bất động trong thời gian này. Tuy nhiên, việc nằm một chỗ sau khi chuyển phôi là tư thế không tự nhiên của một cơ thể đang hoạt động nên có thể gây nhiều ảnh hưởng bất lợi. Phôi thai làm tổ và bám vào tử cung người mẹ trong khoảng thời gian từ 5-7 ngày kể từ ngày thụ thai (tức là 3-5 ngày kể từ ngày chuyển phôi). Trong khoảng thời gian phôi làm tổ, bạn nên nằm nghỉ ngơi bình thường và thư giãn để tăng khả năng bám dính của phôi.
  • Quan hệ vợ chồng: Vợ chồng không quan hệ trong thời gian này. Trách gây động và kích thích vì sẽ gây co bóp tử cung ảnh hưởng đến phôi thai.
  • Vệ sinh cá nhân: Có thể tắm hằng ngày nhưng lưu ý là nên tắm nhẹ nhàng bằng tắm nước ấm. Nên thay quần lót thường xuyên để giữ vùng kín luôn sạch sẽ.
  • Tâm lý: Trong thời gian này nên tránh xem phim đọc sách mang tính chất bạo lực, kích động mạnh dễ ảnh hưởng đến tâm lý. Bên cạnh đó, không nên quá tập trung suy nghĩ đến kết quả sắp tới để rồi có tâm lý lo lắng và suy nghĩ bi quan. Thay vào đó, nên suy nghĩ đến những điều làm bạn vui hoặc giải trí nhẹ nhàng bằng cách nghe nhạc nhẹ, xem phim vui nhộn, đọc sách báo…

Sinh con theo ý muốn nhờ thụ tinh trong ống nghiệm

Với sự tiến bộ của y học hiện nay, việc sàng lọc di truyền tiền làm tổ (còn gọi là sàng lọc phôi, hoặc chọn lọc di truyền trước chuyển phôi) để loại trừ dị tật bẩm sinh ở thai nhi, hay thụ tinh sinh con trai, gái theo ý muốn trong những trường hợp cần thiết nhằm tránh những rối loạn di truyền cho con hoàn toàn có thể thực hiện.

Sàng lọc di truyền tiền làm tổ giúp tầm soát 2000 dị tật bẩm sinh

Hiện 4% trẻ sinh ra có bất thường nhiễm sắc thể, dẫn đến mắc dị tật bẩm sinh như hội chứng Down (khiến trẻ chậm phát triển trí não), Edwards (gây chết thai hoặc tử vong sớm sau sinh – Bé gái dễ bị hơn bé trai gấp 3 lần)…
Mặt khác, nhiều trường hợp trẻ sinh ra bị bệnh di truyền từ bố mẹ, trong đó: một số bệnh có nguy cơ cao di truyền cho con gái như ung thư vú, ung thư cổ tử cung…; ngược lại một số bệnh chủ yếu di truyền hoặc chỉ biểu hiện ở con trai như bệnh máu khó đông Thalassemia, bệnh mù màu, bệnh loạn dưỡng cơ Duchennen…
Trước đây, phải đợi đến khi phôi thai làm tổ trong tử cung của người mẹ, sau đó chọc dò nước ối và làm các xét nghiệm mới biết thai có phát triển bình thường hay không. Nếu phát hiện bất thường ở thai nhi, thai phụ sẽ được chỉ định bỏ thai. Điều này ảnh hưởng xấu đến sức khỏe, đặc biệt là tâm lý của thai phụ và gia đình.
Vì vậy, với mong muốn đứa con sinh ra được khỏe mạnh, nhiều cặp vợ chồng có bệnh di truyền tìm cách lựa chọn giới tính thai nhi ngay từ sớm. Trong đó, nhiều người tìm hiểu cách thụ tinh ống nghiệm hoặc thụ tinh vào thời điểm nào để sinh con trai/ gái, tuy nhiên hiệu quả không cao.
Hiện nay, áp dụng phương pháp thụ tinh trong ống nghiệm (IVF) kết hợp các kỹ thuật chuyên sâu, việc sàng lọc di truyền tiền làm tổ để lựa chọn giới tính thai nhi nhằm loại bỏ nguy cơ mắc bệnh di truyền liên quan đến giới tính đạt hiệu quả đến 100%; đồng thời giúp phát hiện bất thường trên cả 23 cặp nhiễm sắc thể, từ đó loại bỏ đến 2000 dị tật bẩm sinh khác nhau.

Sàng lọc di truyền tiền làm tổ đòi hỏi kỹ thuật chuyên sâu

Quy trình thụ tinh ống nghiệm gồm kích thích buồng trứng, chọc hút trứng, thụ tinh trứng với tinh trùng, nuôi cấy phôi và cuối cùng là chuyển phôi vào buồng tử cung người mẹ.
Việc sàng lọc di truyền tiền làm tổ có thể diễn ra ở thời điểm trước và ngay sau khi trứng thụ tinh, ở ngày thứ 3 hay ở ngày thứ 5 sau thụ tinh. Tùy từng trường hợp, bác sĩ điều trị sẽ chỉ định thời điểm sàng lọc di truyền tiền làm tổ.
Sau đó phôi mong muốn được lựa chọn đưa vào tử cung của người mẹ, bắt đầu quá trình làm tổ.
Sàng lọc di truyền tiền làm tổ cần đi kèm với thụ tinh trong ống nghiệm, đòi hỏi kỹ thuật chuyên sâu, đặc biệt là kinh nghiệm điều trị của bác sĩ. Cụ thể như, quyết định thời điểm nào để sàng lọc di truyền tiền làm tổ ảnh hưởng lớn đến hiệu quả loại trừ dị tật bẩm sinh và bệnh di truyền, đồng thời tiết kiệm chi phí cho bệnh nhân.

Tổng quan tất cả về thụ tinh trong ống nghiệm IVF

Bắt đầu được thực hiện tại Việt Nam từ 1997, trải qua hơn 20 năm, phương pháp thụ tinh trong ống nghiệm – TTTON (IVF) đã mang niềm hạnh phúc đến hàng triệu gia đình và là phương pháp hỗ trợ sinh sản nhanh nhất và có tỉ lệ thành công cao nhất hiện nay.
Dưới là tổng hợp những thông tin mới nhất về phương pháp thụ tinh ống nghiệm IVF và cũng là lời tư vấn đầy đủ đến những cặp vợ chồng đang khát khao con tiến gần đến ước mơ được làm cha làm mẹ.

I. Phương pháp thụ tinh ống nghiệm IVF là gì?

Thụ tinh trong ống nghiệm (In vitro fertilization – IVF) là kỹ thuật điều trị vô sinh – hiếm muộn, trong đó, tinh trùng của người chồng và trứng của người vợ sẽ được thụ tinh trong phòng thí nghiệm để tạo thành phôi.
Sau một thời gian nuôi cấy bên ngoài (thường 2-5 ngày), phôi sẽ được đưa trở lại buồng tử cung của người vợ.

II. Cần thụ tinh ống nghiệm IVF trong trường hợp nào?

Thụ tinh ống nghiệm (IVF) là một kỹ thuật mang lại hiệu quả thành công cao đối với các trường hợp:
  • Tắc và tổn thường vòi trứng hoặc không có ống dẫn trứng
  • Lạc nội mạc tử cung
  • Bất thường tinh trùng nhẹ
  • Thụ tinh ống nghiệm IVF còn được áp dụng cho những trường hợp vô sinh không rõ nguyên nhân ở cả vợ lẫn chồng hoặc trong thời gian dài không thể thụ thai với các phương pháp điều trị vô sinh khác.

III. Quy trình làm thụ tinh ống nghiệm IVF

Điều mà các cặp vợ chồng thường quan tâm khi dự định làm thụ tinh ống nghiệm IVF là thụ tinh ống nghiệm mất bao nhiêu thời gian và trải qua những quy trình nào?
Tùy trường hợp cụ thể, người vợ được kích thích buồng trứng theo phác đồ khác nhau. Thông thường, kể từ lúc bắt đầu tiến hành thụ tinh trong ống nghiệm đến khi biết kết quả có thai nhanh nhất là mất 5 tuần.
Chuẩn bị gì trước khi làm thụ tinh ống nghiệm IVF?
  • Ở giai đoạn chuẩn bị làm thụ tinh ống nghiệm IVF, cả 2 vợ chồng sẽ được thực hiện một số xét nghiệm đánh giá khả năng sinh sản phục vụ cho quá trình thụ tinh ống nghiệm IVF.
  • Tiếp theo khâu xét nghiệm đánh giá khả năng sinh sản là khâu khám tiền mê để bác sĩ đánh giá tình trạng sức khỏe tổng quát của người vợ và để xem người vợ có khả năng làm thụ tinh ống nghiệm và mang thai hay không.
  • Sau khi đã được các bác sĩ khám, tư vấn và có chỉ định thực hiện thụ tinh ống nghiệm IVF, người vợ được hẹn quay lại bệnh viện để thăm khám vào ngày có kinh thứ 2 hay thứ 3 của chu kỳ.
Đây cũng là thời gian để các cặp vợ chồng chuẩn bị tâm lý, sức khỏe và sắp xếp công việc, chi phí… để chuẩn bị bước vào quy trình chính thức của quá trình thụ tinh ống nghiệm IVF.
Các bước trong quy trình thụ tinh ống nghiệm IVF
Quy trình này trải qua 5 bước gồm:
Bước 1: Kích thích trứng (hay còn gọi là kích trứng)
  • Người vợ sẽ được tiêm thuốc kích thích buồng trứng liên tục mỗi ngày, thường trong khoảng thời gian 10-12 ngày. Trong thời gian tiêm thuốc, người vợ sẽ được hẹn để siêu âm và xét nghiệm máu để theo dõi sự phát triển của nang noãn.
  • Khi nang noãn đạt kích thước theo yêu cầu, người vợ sẽ được tiêm mũi thuốc cuối cùng để kích thích trứng trưởng thành (còn gọi là mũi kích rụng trứng). Mũi thuốc này sẽ cần phải tiêm đúng giờ.
Bước 2: Chọc hút trứng
  • Khi trứng đạt yêu cầu, việc chọc hút trứng được tiến hành qua đường âm đạo vào khoảng 36 giờ sau mũi tiêm thuốc cuối cùng. Khi chọc hút trứng, người vợ sẽ được gây mê nên không gặp đau đớn gì. Thời gian chọc hút trứng chỉ từ 10-15 phút cho mỗi ca. Cùng lúc, người chồng lấy tinh trùng để chuẩn bị cấy phôi hoặc được thông báo lấy mẫu tinh trùng đông lạnh (nếu đã được trữ đông trước đó).
  • Sau khi chọc hút trứng, người vợ sẽ nằm theo dõi tình trạng sức khỏe tại bệnh viện 2-3 giờ.
Bước 3: Tạo phôi
  • Trứng và tinh trùng sẽ được chuyển đến phòng labo để thụ tinh và tạo phôi. Phôi sẽ được nuôi cấy bên ngoài 2-5 ngày.
  • Trong thời gian này, người vợ sẽ được dùng thuốc đường uống và đặt âm đạo để chuẩn bị cho quá trình chuyển phôi.
  • Nếu được chuyển phôi ngay sau khi tạo phôi thì gọi là chuyển phôi tươi.
  • Trong trường hợp người vợ không đủ điều kiện sức khỏe để được chuyển phôi tươi, toàn bộ số phôi đạt chất lượng sẽ được trữ đông và người vợ sẽ được chuyển phôi trữ vào chu kỳ tiếp theo.
Bước 4: Chuyển phôi
  • Cặp đôi sẽ được thông báo về số lượng, chất lượng phôi được tạo thành. Sau đó, số phôi chuyển vào buồng tử cung, cũng như số phôi dư có thể đông lạnh cũng sẽ được thống nhất giữa 2 vợ chồng và bác sĩ.
  • Sau khi kiểm tra và thấy rằng niêm mạc tử cung đủ độ dày cần thiết và chất lượng tốt, tạo thuận lợi cho sự làm tổ và phát triển của phôi sau khi đặt vào buồng tử cung, bác sĩ sẽ thực hiện chuyển phôi.
  • Sau khi hoàn tất quá trình chuyển phôi, người vợ nằm nghỉ khoảng 2-4h tại bệnh viện.
  • Trong thời gian 2 tuần sau chuyển phôi, người vợ tiếp tục sử dụng các loại thuốc nội tiết và nghỉ ngơi, sinh hoạt theo hướng dẫn của bác sĩ điều trị.
  • Trong trường hợp chuyển phôi trữ, người vợ sẽ được siêu âm và dùng thuốc theo dõi niêm mạc bắt đầu từ ngày thứ 2 của chu kỳ kinh tiếp theo trong vòng từ 14-18 ngày, sau đó bác sĩ sẽ chọn thời điểm phù hợp để chuyển phôi trữ.
Bước 5: Thử thai
Hai tuần sau, người vợ đến trung tâm để xét nghiệm máu (xét nghiệm Beta HCG) để biết kết quả. Nồng độ beta HCG sau 2 tuần chuyển phôi nếu ở mức > 25 IU/l được xác định là có thai, nồng độ này cao thấp còn tuỳ thuộc từng cơ thể mỗi người.
  • Nếu nồng độ sau 2 ngày tăng gấp rưỡi trở lên thì được xác định là thai đang phát triển và tiếp tục cho thuốc dưỡng thai đến ngày siêu âm để xác định túi thai và tim thai.
  • Nếu beta xét nghiệm sau 2 ngày không tăng hoặc giảm thì tiếp tục theo dõi. Trường hợp thai sinh hoá là khi nồng độ beta khi trở về âm tính (<5 IU/l).
Trường hợp chưa có thai nhưng còn phôi trữ, người vợ có thể tiếp tục dùng phôi trữ để chuyển vào tử cung ở các chu kỳ tiếp theo mà không cần phải thực hiện lại các bước kích thích trứng, chọc hút trứng.

IV. Tỉ lệ thành công

Trên thế giới, tỉ lệ thụ tinh ống nghiệm thành công là khoảng 40-45%. Tại Việt Nam, tỉ lệ này ở khoảng 35-40%. Tỉ lệ thành công này sẽ giảm từ 2-10% đối với phụ nữ lớn tuổi (sau tuổi 40).
Hiện nay, đây là phương pháp có tỉ lệ thành công cao nhất trong các phương pháp hỗ trợ sinh sản hiện nay.

V. Chi phí thực hiện thụ tinh ống nghiệm IVF

Bên cạnh tỉ lệ thành công thì chi phí khi làm thụ tinh ống nghiệm, “làm IVF hết bao nhiêu tiền” cũng là thắc mắc của các cặp vợ chồng. Hiện nay, chi phí làm thụ tinh ống nghiệm IVF là khoảng triệu 70-100 triệu đồng. Mức giao động này tuỳ thuộc vào tình trạng sức khỏe của người mẹ với những phác đồ điều trị khác nhau.

Quá trình thụ tinh trong ống nghiệm ivf

Thụ tinh trong ống nghiệm (IVF) là phương pháp hỗ trợ sinh sản phổ biến hiện nay.  Tùy phác đồ điều trị, thời gian cho kết quả đối với từng bệnh nhân là khác nhau. Ở điều kiện thuận lợi nhất, thụ tinh trong ống nghiệm mất khoảng 3-4 tuần.
Giá thụ tinh nhân tạo, thụ tinh trong ống nghiệm phụ thuộc vào nhiều yếu tố như tình trạng vô sinh hiếm muộn của 2 vợ chồng ở mức độ nào, có bệnh lý khác đi kèm không, có phải tiến hành điều trị trước khi làm IVF hay không… Thực tế có những trường hợp sau khi thăm khám, bác sĩ phát hiện người vợ bị dính buồng tử cung, nên dù làm IVF nhiều lần ở nhiều nơi vẫn không thể có con, do đó  trước khi làm IVF cần phải tiến hành mổ nội soi tách dính buồng tử cung mới hy vọng IVF thành công. Như vậy chi phí thăm khám, tư vấn và điều trị vô sinh hiếm muộn cho những ca này sẽ phải cộng thêm chi phí mổ nội soi.

Việc đầu tiên khi tới bệnh viện, các cặp vợ chồng hiếm muộn sẽ được thăm khám, làm các xét nghiệm chuyên sâu, từ đó được tư vấn các phương pháp hỗ trợ sinh sản phù hợp, được giải đáp cặn kẽ những băn khoăn như quá trình thụ tinh nhân tạo diễn ra như thế nào, chi phí cho thụ tinh nhân tạothụ tinh trong ống nghiệm hết mất bao nhiêu tiền, trứng thụ tinh sau bao lâu thì biết có thai

Phương pháp thụ tinh trong ống nghiệm
Trường hợp bơm tinh trùng nhiều lần thất bại, hoặc tinh trùng ít, yếu, dị dạng không thể thực hiện bơm tinh trùng vào tử cung; người vợ bị tắc vòi trứng hoặc lớn tuổi (≥ 40 tuổi), phương pháp thụ tinh trong ống nghiệm sẽ được chỉ định tiến hành.
Điều mà các cặp vợ chồng thường quan tâm là trứng thụ tinh sau bao lâu thì được đưa vào tử cungthụ tinh ống nghiệm mất bao nhiêu thời gian…Tùy trường hợp, người vợ được kích thích buồng trứng theo phác đồ khác nhau, thời gian nhanh nhất là 3 tuần, chậm nhất là 7 tuần.
Qui trình thụ tinh trong ống nghiệm
  • Người vợ được kiểm tra tổng quát về sức khỏe để chuẩn bị điều trị vào ngày 2 vòng kinh. Trong thời gian kích thích buồng trứng, bác sĩ theo dõi trứng và điều chỉnh thuốc tùy vào đáp ứng của người vợ.
  • Khi trứng đạt yêu cầu, việc chọc hút trứng được tiến hành. Sau khi chọc hút trứng, người vợ nằm theo dõi tình trạng sức khỏe tại bệnh viện 2 – 3 giờ. Cùng lúc, người chồng lấy tinh trùng để chuẩn bị cấy phôi.
  • Phôi cấy xong sẽ được theo dõi trong phòng lab.
  • Sau 2 đến 3 ngày, phôi được chuyển vào buồng tử cung. Dưới sự đồng ý của cả 2 vợ chồng, bệnh viện sẽ trữ đông những phôi đạt chất lượng còn dư để sử dụng cho lần chuyển phôi sau (người vợ không phải trải qua giai đọa kích thích buồng trứng nữa). Khi chuyển phôi xong, người vợ nằm nghỉ khoảng 2 – 4h tại bệnh viện. Khi về nhà đi lại bình thường.
Trong trường hợp người vợ không đủ điều kiện sức khỏe để được chuyển phôi tươi, toàn bộ số phôi đạt chất lượng sẽ được trữ đông và người vợ sẽ được chuyển phôi trữ vào chu kỳ tiếp theo.
  • Tại nhà, người vợ tiếp tục uống và đặt thuốc để hỗ trợ sự làm tổ, phát triển của phôi thai.
  • 2 tuần sau người vợ đến bệnh viện kiểm tra kết quả. Nếu có thai sẽ tiến hành dưỡng thai, khám thai định kỳ. Trường hợp chưa có thai nhưng còn phôi trữ, người vợ có thể tiếp tục dùng phôi trữ để chuyển vào tử cung.
Như vậy, kể từ lúc bắt đầu tiến hành thụ tinh trong ống nghiệm đến khi biết kết quả có thai nhanh nhất là mất 5 tuần.